Polaroid

a. Tình hình thế giới và khu vực tác động đến công tác quốc phòng ở Bộ, ngành và địa phương. Hiện nay, tình hình khu vực và thế giới có những diễn biến phức tạp, tác động đến đời sống kinh tế- xã hội của đất nước, trong đó có công tác quốc phòng. Nhiều thế lực thù địch và các lực lượng phản động luôn tìm cách chống phá nước ta, chúng thực hiện chiến lược diễn biến hoà bình, bạo lực lật đổ bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn buộc ta phải đối phó. Công tác quốc phòng phải thực hiện tốt để góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội, độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và kiên định con đường đi lên CNXH. Khoa học công nghệ phát triển sâu rộng có tác động lớn đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội, quốc phòng- an ninh. Đất nước ta đang tiếp tục thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN trong khi tình hình thế giới, khu vực đang có những biến động sâu sắc, có tác động đến mọi mặt đời sống kinh tế- xã hội nước ta. Chúng ta đang đứng trước những thời cơ và thách thức lớn, đang xây dựng trong môi trường cạnh tranh quyết liệt. Nhiều tình huống phức tạp, quyết liệt có thể xảy ra, buộc ta phải đối phó. Bởi vậy, trong khi ta đang tập trung sức xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, phải chú trọng tăng cường quốc phòng – an ninh, nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền, giữ vững ổn định an ninh chính trị, bảo đảm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đối phó có hiệu quả mọi tình huống.


Vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế đã được đặt ra trong nhiều đại hội Đảng, nhất là trong các Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII. Thực hiện chủ trương này, Nhà nước ta từng bước tham gia vào các tổ chức kinh tế thế giới như gia nhập khối ASEAN (1995), tham gia khu vực mậu dịch tự do AFTA, ký hiệp định khung EU (1996), là thành viên APEC (1998), xin gia nhập WTO, đàm phán với Mỹ hiệp định thương mại song phương v.v.... Từng bước hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đi liền với việc mở rộng hợp tác trên các inh vực an ninh và đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến bảo vệ an ninh quốc gia. Mặc dù vẫn còn nhiều vấn đề phải được kết luận, nhưng quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nhà nước đã giúp ta đánh giá chính xác hơn tiềm lực an ninh, quốc phòng đất nước; thấy được khả năng bảo vệ chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc; xác định được những nguy cơ đe doạ từ bên trong, bên ngoài lợi dụng quá trình hội nhập xâm phạm an ninh quốc gia. Phải thừa nhận rằng, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế tạo những điều kiện thuận lợi trong hợp tác an ninh khu vực và thế giới của lực lượng Công an Việt Nam. Những hoạt động như tham gia vào Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (lnterpol), Tổ chức Cảnh sát trong khối ASEAN (Aseanapol); hợp tác kiểm soát ma tuý với các quốc gia trên thế giới; phối hợp song phương và đa phương với Công an, Nội vụ các nước khác bảo vệ an ninh quốc gia từ xa... , là mở rộng hợp tác quốc tế về an ninh giữa Công an Việt Nam với các cơ quan Công an, Nội vụ của các nước khác bảo vệ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc biệt, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã làm tăng khả năng áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến nhất vào công tác giữ gìn an ninh trật tự của lực lượng Công an nhân dân. Tuy nhiên, nghiên cứu quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới trong tiến trình toàn cầu hoá cũng đặt ra nhiều thách thức trong bảo vệ an ninh quốc gia tại Việt Nam.

Vùng Biển Đông rất giàu các nguồn tài nguyên. Nằm ở vị trí là giao của các tuyến đường biển và đường hàng không chính, Biển Đông có giá trị địa chiến lược rất quan trọng. Những năm gần đây, khi dầu lửa và khí ga được tìm thấy và Liên Hợp Quốc đã ban hành các quy định về quyền về các tài nguyên biển thông qua “Luật Biển”, các quốc gia ven biển đã liên tiếp tuyên bố chủ quyền của mình bằng việc tổ chức đánh bắt cá, du lịch, tham gia vào các hoạt động nghiên cứu, khảo sát, v.v.., vì lợi ích quốc gia và tính toán chiến lược của mình. Các quốc gia này có xu hướng dần tăng cường khả năng kiểm soát các đảo/bãi san hô, và cả các vùng nước xung quanh . Kết quả là, thường xuyên xảy ra tranh chấp giữa tất cả các bên. Ngoài ra, do một số quốc gia bên ngoài khu vực như Mỹ, Nhật, và Ấn độ đã chủ động can thiệp vào các công việc liên quan nên vấn đề Biển Đông đã được quốc tế hóa và phức tạp hóa. Trong bài này, các phân tích và đánh giá được đưa ra tập trung vào các tranh chấp, tình hình an ninh và những diễn biến trong tương lai của Biển Đông hiện nay.

Những mâu thuẫn và xung đột chính ở Biển Đông nằm ở các quốc gia ven biển và các quốc gia láng giềng, những nước đơn phương tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa dựa trên ý chí của mình. Vì vậy, những vùng nước bị chồng lấn, điều này khiến cho các tàu thuyền hay người đi vào vùng nước tranh chấp đã trở thành những tiêu điểm của các tranh chấp một cách sai lầm.

Từ năm 2007, nhiều biến cố quốc tế xảy ra đã châm ngòi cho các vấn đề đang ngày càng leo thang liên quan đến tranh chấp chủ quyền ở Quần đảo Trường Sa [A: SpratlyIslands, TQ: Namsha/Nam Sa; nd] và các đảo/bãi san hô. Ví dụ, Thủ tướng Ma-lai-xi-a lên thăm bãi Đá Hoa Lau [A: Swallow Reef; TQ:Danwan Jiao; nd] đang trong tranh chấp; Tổng thống Phi-lip-pin ký “Đạo luật Đường Cơ sở Lãnh Hải”; Việt Nam, Trung Quốc Đại lục, Đài Loan và Ma-lai-xi-a phản đối gay gắt yêu sách lãnh thổ của Phi-lip-pin.

(2) Khai thác năng lượng và đánh bắt cá đã làm trầm trọng thêm những tranh chấp ở Khu vực Biển Đông. Nếu các quốc gia liên quan khai thác thành công dầu mỏ và khí ga thiên nhiên dưới biển sâu, căng thẳng trong khu vực càng có xu hướng leo thang. Ví dụ, Trung Quốc Đại lục tuyên bố cấm đánh cá trong một số vùng ở Biển Đông, và thậm chí còn cử các tàu tuần tra đến vùng đặc quyền kinh tế mà họ tuyên bố chủ quyền; Trung Quốc cũng phản đối việc khoan tìm dầu khí ở Biển Đông của Phi-lip-pin.

(3) Việt Nam và Ma-lai-xi-a đã có những hành động yêu sách chủ quyền về thềm lục địa, nhưng bị phản đối bởi Trung Quốc Đại lục và Phi-lip-pin. Căn cứ vào đường đứt đoạn chín khúc, Trung Quốc đã đưa ra yêu sách lịch sử chủ quyền của nước này trên toàn bộ Biển Đông. Ma-lai-xi-a và Việt Nam đưa ra những yêu sách lãnh thổ đối với một phần các đảo phù hợp với các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

(4) Việt Nam đã lập kế hoạch xây dựng đường ống dẫn khí ga thiên nhiên trong khu vực quốc gia này tuyên bố thềm lục địa. Trung Quốc Đại lục khẳng định rằng đó là một hành động vi phạm chủ quyền và quyền tài phán trong lãnh thổ nước này; điều này vi phạm thỏa thuận liên quan đến các vấn đề biển mà hai bên đã đạt được trước đó. Mặc dù Trung Quốc Đại lục và Việt Nam đã đạt được tiến bộ về việc phân định Vịnh Bắc Bộ, quan hệ hai bên vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại. Những người yêu nước ở Việt Nam vẫn chỉ trích các hành động của chính phủ rất nhiều.





U-ON
Đhquynhon/ facebook/ Trang Chủ

♫ Tìm nhac mp3 ♫